Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah vừa được Bộ Y tế ban hành, cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn là bước đầu tiên và quan trọng nhất để ngăn chặn bệnh do virus Nipah lây lan.
Bộ Y tế yêu cầu nhập viện và cách ly ngay lập tức tất cả các ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định phải được nhập viện và điều trị tại các phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt. Không cho phép người nhà hoặc người không có nhiệm vụ vào thăm người bệnh trong khu vực cách ly.

Các ca nghi ngờ và các ca bệnh Nipah xác định cần điều trị cách ly
ẢNH: VÂN ANH
Đồng thời áp dụng các biện pháp phòng ngừa lây truyền qua đường tiếp xúc và giọt bắn theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Bộ Y tế cho biết, hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Nipah, thực hiện các biện pháp phòng bệnh chủ yếu dựa vào ngăn chặn đường lây truyền theo quy định của Bộ Y tế. Các thuốc kháng vi rút hiện đang nghiên cứu, chưa có khuyến cáo chuẩn.
Về điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ với ca bệnh Nibah, Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng paracetamol để hạ sốt. Chống chỉ định với NSAID (là nhóm thuốc kháng viêm không steroid), do nguy cơ gây biến chứng chảy máu hoặc hội chứng Reye (hội chứng bệnh về não, rối loạn chức năng gan cấp tính hiếm gặp - PV).
Cần duy trì cân bằng dịch và điện giải thông qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch. Chỉ sử dụng kháng sinh nếu có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Điều trị các triệu chứng và tình trạng rối loạn chức năng khác theo từng trường hợp bệnh cụ thể...
Nguy cơ virus Nipah lây từ người sang người
Theo Bộ Y tế, bệnh do virus Nipah (NiV) là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền từ động vật sang người, có thể lây từ người sang người. Virus được phát hiện lần đầu năm 1998 tại Malaysia. Biểu hiện nặng của bệnh thường là viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong từ 40% - 75% hoặc để lại di chứng.
Bệnh do virus Nipah được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế thế giới.
Virus Nipah có vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả. Dơi mang virus nhưng không biểu hiện triệu chứng bệnh. Vật chủ trung gian là lợn, đôi khi là ngựa hoặc các gia súc khác (dê, cừu và chó).
Virus có hai dòng gây bệnh chính, trong đó NiV-Malaysia (NiV-M) liên quan đến lây từ động vật sang người. Khả năng lây truyền từ người sang người của dòng này rất thấp.
NiV-Bangladesh (NiV-B) và NiV-India (NiV-I) có độc lực cao hơn, khả năng lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh cao hơn so với chủng Malaysia.
Virus Nipah lây truyền khi tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất tiết của chúng (nước tiểu, nước bọt, ...). Tiêu thụ thực phẩm (như nhựa cây chà là, trái cây, ...) bị nhiễm chất bài tiết của dơi.
Lây từ người sang người (hệ số lây nhiễm từ người sang người thấp: từ 0,2 - 0,4) qua dịch tiết hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn, virus lan truyền qua các giọt bắn khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Những người bệnh có triệu chứng hô hấp (ho, khó thở) có nguy cơ lây truyền cao hơn những người chỉ có triệu chứng viêm não.
Theo Bộ Y tế, ca bệnh Nipah nghi ngờ là người có yếu tố dịch tễ trở về từ vùng dịch lưu hành, hoặc có tiếp xúc với dịch tiết của ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày và có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ, bao gồm sốt kèm biểu hiện rối loạn thần kinh; sốt kèm đau đầu; sốt kèm các triệu chứng hô hấp (ho, khó thở).
Ca bệnh Nipah xác định là người có bằng chứng xét nghiệm xác nhận nhiễm virus NiV qua phát hiện RNA của virus.