Theo bác sĩ Lê Thị Thanh Huyền, Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM), chỉ cần sử dụng sai chỉ định, sai liều hoặc tiếp xúc kéo dài, thạch tín có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho nhiều cơ quan trong cơ thể.
Trong nha khoa hiện đại, mọi hình thức sử dụng thạch tín đều bị loại bỏ. Nếu cơ sở điều trị còn sử dụng hoặc quảng bá các chế phẩm chứa thạch tín, đó không phải là thực hành nha khoa an toàn.

Thạch tín trắng có thể thấm qua hệ thống ống ngà và thoát ra vùng quanh chóp răng, từ đó gây hoại tử mô nha chu và xương ổ răng
ẢNH MINH HỌA: AI
Thạch tín trắng và thuốc diệt tủy trong nha khoa khác nhau như thế nào?
Bác sĩ Huyền cho biết, thạch tín trắng (Arsenic trioxide) là một hợp chất asen vô cơ có độc tính rất cao và được xếp vào nhóm hóa chất nguy hiểm. Thạch tín từng được sử dụng để làm chết mô tủy bị viêm nặng khi gây tê không có hiệu quả. Tuy nhiên, trong 10-15 năm gần đây với sự phát triển của kỹ thuật gây tê và các thuốc tê trong điều trị nha khoa, thạch tín không còn được sử dụng trong y học hiện đại.
Trong khi đó, “thuốc diệt tủy” dùng để chỉ các chế phẩm đặt vào răng nhằm làm hoại tử mô tủy trong trường hợp viêm tủy nặng khi gây tê khó hiệu quả. Trước đây, một số thuốc diệt tủy có thành phần chứa asen, nhưng hiện nay tại các bệnh viện và cơ sở đào tạo chính thống, asen đã bị loại bỏ hoàn toàn và không còn được giảng dạy hay sử dụng trong điều trị.
Nói cách khác, thạch tín trắng là một hóa chất độc mạnh, còn thuốc diệt tủy là các chế phẩm nha khoa không chứa asen, được thiết kế để tác động tại chỗ và đảm bảo an toàn cho mô quanh răng cũng như cho toàn cơ thể. Cần lưu ý, trong nội nha hiện đại, không còn khái niệm điều trị dựa trên “diệt tủy bằng hóa chất”, mà là “loại bỏ mô tủy bằng cơ học dưới gây tê”.
Nguy cơ suy thận, bệnh gan mạn nếu phơi nhiễm thạch tín kéo dài
Trong nha khoa, việc đặt thạch tín vào răng trước đây từng được dùng để “diệt tủy” nhưng hiện nay đã bị từ bỏ do nguy cơ cao gây tai biến tại chỗ. Hoạt chất này có thể thấm qua hệ thống ống ngà và thoát ra vùng quanh chóp răng, từ đó gây hoại tử mô nha chu và xương ổ răng, khiến tổn thương không còn khu trú trong buồng tủy mà lan sang các mô lân cận.
Trên lâm sàng, người bệnh có thể gặp các biến chứng nặng như hoại tử mô mềm, tổn thương nướu, tiêu xương ổ răng, thậm chí lộ xương hàm và viêm xương hàm hoại tử. Những biến chứng này không chỉ gây đau đớn kéo dài mà còn rất khó điều trị phục hồi và có thể dẫn đến mất răng vĩnh viễn.
Về toàn thân, trong ngộ độc cấp, asen có thể gây nôn ói dữ dội, đau bụng, tiêu chảy, rối loạn điện giải, tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, tê bì tay chân và có thể dẫn tới suy đa cơ quan, tử vong trong các trường hợp nặng.
Bác sĩ Thanh Huyền cho hay, nếu phơi nhiễm kéo dài, asen tích lũy trong cơ thể có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên, bệnh gan mạn, suy thận, biến đổi sắc tố da, dày sừng lòng bàn tay - bàn chân và đặc biệt làm tăng nguy cơ ung thư da, phổi, bàng quang. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy asen còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và nhồi máu cơ tim. Chính vì vậy, thạch tín không có chỉ định điều trị hợp pháp trong nha khoa hiện đại.

Điều trị tủy hiện nay dựa trên nguyên tắc sinh học, không dựa vào hóa chất gây hoại tử
ẢNH MINH HỌA: AI
Người bệnh nên theo dõi hoặc xử trí ra sao?
Bác sĩ Huyền khuyên, nếu nghi ngờ từng được sử dụng chế phẩm chứa thạch tín trong điều trị răng, người bệnh nên chủ động đi khám chuyên khoa răng hàm mặt để được đánh giá lại tình trạng răng đã điều trị, mô nướu và xương ổ răng, thường thông qua thăm khám lâm sàng và chụp X-quang. Việc này giúp phát hiện sớm các biến chứng như tiêu xương, viêm xương hoặc hoại tử mô quanh chóp răng.
Ngoài ra, người bệnh cần theo dõi các dấu hiệu bất thường tại chỗ như đau kéo dài, sưng nướu, loét, rỉ dịch, hôi miệng dai dẳng hoặc cảm giác lộ xương. Nếu xuất hiện các triệu chứng toàn thân như tê bì tay chân, mệt mỏi không rõ nguyên nhân, thay đổi sắc tố da…, nên trao đổi thêm với bác sĩ nội khoa để được đánh giá nguy cơ phơi nhiễm asen mạn tính.
Đâu là phương pháp điều trị tủy đúng và an toàn?
Theo bác sĩ Lê Thị Thanh Huyền, điều trị tủy hiện nay dựa trên nguyên tắc sinh học, không dựa vào hóa chất gây hoại tử. Thay vào đó, trọng tâm là kiểm soát đau tốt bằng thuốc tê thế hệ mới và điều trị tủy theo hướng bảo tồn.
Bác sĩ sử dụng thuốc tê để vô cảm, sau đó dùng dụng cụ chuyên dụng lấy sạch tủy và bơm rửa kỹ càng ngay trong một lần điều trị. Phương pháp này an toàn, kiểm soát tốt nhiễm trùng và bảo tồn tối đa cấu trúc răng.