Bác sĩ: Những điều cần biết khi dùng tía tô

Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Tấn Vũ, Đơn vị Điều trị Ban ngày, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3 cho biết, lá tía tô có tên khoa học là Perilla frutescens (L.) Britt, là cây thân thảo, lá mọc đối xứng, mép lá có răng cưa rõ rệt. 

Giá trị dược lý của tía tô đến từ sự đa dạng của các nhóm hợp chất sinh học. Các phân tích sắc ký và quang phổ cho thấy trong lá tía tô có nhiều hoạt chất quan trọng. Trong đó, tinh dầu chiếm khoảng 0,5-1,5% trọng lượng khô. Các thành phần chủ đạo như hợp chất perillaldehyde tạo nên mùi thơm đặc trưng của tía tô  cùng limonene, linalool và β-caryophyllene.

Bên cạnh đó, nhóm polyphenol và flavonoid như rosmarinic axit, luteolin và apigenin cũng được ghi nhận với hoạt tính chống oxy hóa và chống viêm mạnh, góp phần tạo nên nhiều lợi ích sức khỏe của loại thảo dược này.

Tía tô vị thuốc quen thuộc nhưng không phải ai cũng dùng đúng - Ảnh 1.

Giá trị dược lý của tía tô đến từ sự đa dạng của các nhóm hợp chất sinh học

ẢNH: AI

Vị thuốc tía tô trong y học cổ truyền

Trong đông y, cây tía tô được xem là một vị thuốc quen thuộc, hầu như bộ phận nào của cây cũng có thể sử dụng làm dược liệu. Tía tô có vị cay, tính ấm, mùi thơm, thường được dùng để giải cảm, điều hòa khí và hỗ trợ tiêu hóa.

Tùy theo bộ phận sử dụng, công dụng của tía tô cũng khác nhau. Tô diệp (lá tía tô) thường dùng trong các trường hợp cảm lạnh với triệu chứng sốt nhẹ, sợ gió, đau đầu, nghẹt mũi và ít ra mồ hôi. Tô ngạnh (cành tía tô) giúp an thai, hỗ trợ giảm tình trạng đầy tức ngực sườn, đau bụng do khí trệ hoặc buồn nôn ở phụ nữ mang thai. Trong khi đó, tô tử (hạt tía tô) có tác dụng tiêu đờm, thường được dùng trong các trường hợp ho, hen suyễn, nhiều đờm và khó thở.

Trong dân gian, tía tô cũng được sử dụng trong nhiều bài thuốc. Khi bị cảm lạnh, người ta thường dùng khoảng 15-20 g lá tía tô tươi rửa sạch, thái nhỏ cho vào cháo nóng để ăn giải cảm, hoặc sắc cùng vài lát gừng tươi để uống. Sau khi dùng nên nghỉ ngơi, giữ ấm cơ thể để ra mồ hôi nhẹ.

Với trường hợp dị ứng hoặc khó chịu sau khi ăn hải sản, lá tía tô tươi có thể được giã nát, vắt lấy nước uống, phần bã dùng xoa lên vùng da mẩn ngứa. Ngoài ra, lá hoặc cành tía tô còn có thể hãm nước uống loãng để hỗ trợ giảm buồn nôn ở phụ nữ mang thai.

Tuy nhiên, các cách dùng trên chủ yếu mang tính hỗ trợ theo kinh nghiệm dân gian. Liều lượng có thể thay đổi tùy thể trạng từng người; nếu xuất hiện triệu chứng nặng hoặc bất thường, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn phù hợp.

Tía tô vị thuốc quen thuộc nhưng không phải ai cũng dùng đúng - Ảnh 2.

Khi bị cảm lạnh, người ta thường dùng khoảng 15-20 g lá tía tô tươi rửa sạch, thái nhỏ cho vào cháo nóng để ăn giải cảm

ẢNH: AI

Lưu ý an toàn và thận trọng

Bác sĩ Vũ lưu ý mặc dù là dược liệu lành tính, việc sử dụng tía tô cần tuân thủ các nguyên tắc:

Chống chỉ định: Người bị cảm phong nhiệt (sốt cao, ra mồ hôi nhiều, khát nước) hoặc người có thể trạng âm hư, nội nhiệt (hay bốc hỏa, nóng trong) không nên dùng nhiều tía tô vì tính ấm của dược liệu có thể làm nặng thêm tình trạng táo nhiệt.

Không lạm dụng: Không dùng nước sắc tía tô thay nước lọc dài ngày cho người bình thường, vì tác dụng "phát hãn" (làm ra mồ hôi) quá mức có thể gây mất tân dịch, mệt mỏi. 

Tương tác thuốc: Do chứa hàm lượng omega-3 và các hoạt chất chống đông nhẹ, cần thận trọng khi phối hợp lượng lớn tía tô với các thuốc chống đông máu (như Warfarin, Aspirin) để tránh nguy cơ chảy máu.

Thời tiết

Văn hóa

Giải trí

Thể thao