Triều Nguyễn một góc nhìn khác: Bức 'mật thư' trong Thương Sơn thi tập

Theo Trần Như Thổ: "Đấy là một trang viết đặc biệt độc đáo, gồm hai mạch ý tứ có bản chất trái hẳn nhau, nhưng lại được tác giả thể hiện đồng thời trong một dạng chữ Hán tượng hình duy nhất: mạch ý công khai và mạch ý tác giả muốn giữ kín" (Bức mật thư đất - nước - gió - lửa trong Thương Sơn thi tập, 2005, tr.17). Mạch công khai là "bức thư gửi thăm bạn phương xa"; còn mạch ẩn ý chính là bức mật thư liên quan nghi vấn "vua Tự Đức là con của ai?".

Miên Thẩm là thi hào lừng danh thời Nguyễn. Vua Tự Đức đã từng tán tụng: "Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán. Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường" (Văn như của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thì không còn văn thời Tiền Hán. Thơ như của Tùng Thiện và Tuy Lý thì thơ thời Thịnh Đường không còn đáng kể). Tống Trần Như Khuê kiêm ký bá thị Đông Sơn Doãn Lương Ngọc là bài thơ in ở trang B, tờ 11, quyển 22 của bộ Thương Sơn thi tập. Toàn văn bài thơ gồm 100 chữ, nhưng trong cùng trang in bài thơ này, có bài đoản văn dài 42 chữ ở phía trên và bài dẫn dài 95 chữ ở phía cuối.

Trần Như Thổ coi bài đoản văn và bài dẫn là "chìa khóa" để giải mã những ẩn ý trong bài thơ Tống Trần Như Khuê kiêm ký bá thị Đông Sơn Doãn Lương Ngọc, cũng là "phương tiện" để khám phá nghi án "vua Tự Đức là con của ai?"

Triều Nguyễn một góc nhìn khác: Bức 'mật thư' trong Thương Sơn thi tập- Ảnh 1.

Tranh chân dung Tùng Thiện Vương Miên Thẩm thờ tại phủ Tùng Thiện Vương (Huế)

Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Bài đoản văn gồm hai đoạn tách biệt nhau. Đoạn bên phải là: Thúc bá tân trung chi tân, quý tân trung chi chủ tác giả, hựu chủ trung chi chủ thác tổng giao hỗ như nhập tương dương. Thảo lư mạc biện thùy tân thùy chủ.

Trần Như Thổ dịch: Giữa chú và bác người ngồi ngôi trên là khách; ấy vị người khách nhỏ được chủ "nhấc lên"; lại do người chủ ở bên trong cố ý lầm lẫn vị trí người đứng đầu để cuộc chơi đắp đổi qua lại giúp nhau vào được nơi sáng tỏ nhất. Quý vị sáng suốt phân tích ai là chủ? ai là khách?

Đoạn bên trái là: Chu tể lam vân dật thủ. Thỏa hiệp cực vị nan đắc. Trần Như Thổ dịch: Đầu óc lầm lẫn đầy chướng khí này mong được xua tan sạch hết thảy. Đạt được việc khó nhờ quý vị vui lòng cùng nhau hết sức giúp cho.

Theo Trần Như Thổ, bài đoản văn này đề cập ba người: hai người hiện diện (chú và bác) và một người ẩn diện (người sắp đặt mọi việc từ bên trong).

Muốn biết họ là ai, thì tìm hiểu qua bài thơ ở trung tâm: Lạc hạ hữu tam hỗ. Quân gia diệc Dư Phiên. Bá thúc ký long dược. Quý tử cánh hồng hiên. Tại tích đăng ngô đường. Đầu giác giai tuyệt thế. Sở hận cư hoan thiểu. Nhẫm nhiệm động chinh bái. Bá tử thủy Đông xuất. Trọng thị kế Nam hành. Ly đình dương liễu thụ. Chiết xứ bất cập sinh. Trường An ngũ nguyệt trung. Phong trần hạo như hải. Tiện nhĩ quy lộ nhàn. Thiên chu thải lan chỉ. Hà dương thảng kinh quá. Kỷ nhật tự đình xa. Vị vấn hiền minh tể. Tương tư cách tuế hoa.

Triều Nguyễn một góc nhìn khác: Bức 'mật thư' trong Thương Sơn thi tập- Ảnh 2.

Trang B, tờ 11, quyển 22 trong Thương Sơn thi tập (bản ký hiệu VHB 183-VHB186, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội), in bài thơ Tống Trần Như Khuê kiêm ký bá thị Đông Sơn Doãn Lương Ngọc của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm

Trần Như Thổ dịch: Cuối dòng Lạc có ba sự phúc. Ngai vàng cùng ấn ngọc tôn nghiêm. Thứ, trưởng qua hai lượt chuyển quyền. Con nhỏ lớn cao thêm nối đức. Nhớ ngày trước lên thăm nhà tôi. Trí, lực cả hai đều hơn đời. Tiếc bạn ở chơi vui quá ít. Thoắt đưa, chinh chiến đến nơi rồi! Thoạt đầu con lớn hướng ra Đông. Tiếp bước chân, con thứ vào Nam. "Trạm tiễn" giơ cao cành liễu vẫy. Gãy cành, cây chẳng kịp hồi sinh. Trong năm tháng khắp chốn kinh đô. Gió bụi tung trời như biển xô. Mong bạn đường về mau nhẹ bước. Hái đầy thuyền nhỏ cỏ hương, hoa! Nếu ngang qua nơi ấy Hà Dương. Hãy dừng xe để mấy ngày đường. Tìm hỏi thăm giùm quan sở tại. Nhớ mong Người xa đã mấy năm.

Theo Trần Như Thổ, ba người đó là: Miên Thẩm, tác giả bài thơ, cũng là "bức mật thư"; Đông Sơn Doãn Lương Ngọc, người nhận "bức mật thư"; và Trần Như Khuê, người được Miên Thẩm ủy nhiệm trao "bức mật thư" cho Doãn Lương Ngọc. Vậy ba người này có phải là ba nhân vật được đề cập trong đoản văn ở trên?

Ông cũng cho rằng bài dẫn ở cuối bài thơ Tống Trần Như Khuê kiêm ký bá thị Đông Sơn Doãn Lương Ngọc cho biết: "Mọi việc thấy vậy mà không phải vậy", vì ba người được nhắc đến trong bài đoản văn, chính là những người liên quan đến nghi án "vua Tự Đức là con của ai? Họ chính là: Trương Đăng Quế, vua Tự Đức và hoàng trưởng tử Hồng Bảo, anh ruột của vua.

Theo Trần Như Thổ, việc vua Thiệu Trị "phế trưởng, lập thứ" chỉ là phút hạ màn của một "vở diễn lịch sử" đã mở màn từ năm 1829. Và nơi vở diễn ấy bắt đầu là một tòa lầu bên trong Đại Nội nhưng có hai tên: Khương Ninh Các - Phước Thọ Am. (còn tiếp)

(Trích từ sách Huế - triều Nguyễn một cái nhìn của nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn, do NXB Thế Giới ấn hành)

Thời tiết

Văn hóa

Giải trí

Thể thao