Một sáng sớm tại xóm Nhất Đông, thôn Tân Phước Đông, xã Bình Minh (Quảng Ngãi) ngập tràn ánh nắng vàng; từng tia nắng như mật trải dài trên vườn cau, vườn chuối của đôi vợ chồng thương binh Trương Văn Hiệp (Sáu Hiệp) và Huỳnh Thị Lượt. Trong ngôi nhà nhỏ, ông bà ngồi kề nhau, nụ cười hiền hậu khiến khách lạ dễ dàng cảm nhận sự ấm áp lan tỏa. Thời gian đã làm bạc mái tóc, làm đôi chân khập khiễng, lưng còng… nhưng không thể làm phai đi tình yêu sắt son họ đã trao nhau từ những ngày bom đạn.
Những vết thương thời hoa lửa
Trong người ông Sáu Hiệp còn sót lại 5 vết thương. Trên khuôn mặt hiền lành là vết lõm sâu bên má phải do mảnh đạn. Cánh tay trái hơi cong, lớp da sần sùi chằng chịt sẹo. Dưới cổ, vết xoáy tròn vẫn còn hằn lại từ viên đạn năm xưa. Đôi chân tập tễnh, các bác sĩ chụp phim từng bảo trong đầu ông vẫn còn sót mảnh kim loại, mỗi khi trời trở gió là đau nhức. Thế nhưng ông thường gạt đi, chỉ mỉm cười: "Quen rồi, nay cũng hết đau luôn, còn sống là may mắn".

Hai vợ chồng thương binh hiền lành, bình dị
ẢNH: PHẠM ANH
Bà Lượt cũng chẳng khá hơn. Năm 1968, trong trận đánh ở cầu Bà Rén (thuộc H.Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cũ), một quả bom chụp xuống, mảnh bom xuyên từ đầu xuống khiến bà mất hẳn mắt phải, nay có lẽ bị ảnh hưởng nên liệt hoàn toàn cánh tay phải. Ngồi trong gian nhà nhỏ, bà cụ tóc bạc phơ nâng cánh tay bằng bàn tay trái còn lành lặn, khẽ lắc lắc: "Giờ tay phải chẳng còn làm được gì nữa… Nhưng quen rồi, không sao nữa". Hai cơ thể không trọn vẹn, nhưng họ chưa từng than trách. Họ coi những vết thương như một phần đời sống, như dấu ấn của thời thanh xuân đã dành cho Tổ quốc.
Lớn lên tại vùng quê Quảng Ngãi nghèo khó, 16 tuổi ông Trương Văn Hiệp đã vào du kích. Hai năm sau, chàng trai cao 1,75 m, nặng 65 kg được tuyển vào Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), một đơn vị nổi tiếng anh dũng. Với thể lực tốt và sự nhanh nhẹn, ông được giao khẩu trung liên và nhanh chóng trở thành xạ thủ dày dạn trận mạc.
Trong ký ức ông còn in sâu trận đánh đồn Mả Tổ (xã Tịnh Sơn, Sơn Tịnh ngày trước). Trận này, ông đã dùng trung liên diệt được nhiều lính địch. Nhưng đó cũng là trận ông phải hứng mảnh pháo vào má, ngất đi giữa chiến trường, đất đá phủ kín người. Có đến 3 người đồng đội thân thiết, trong đó có đại đội phó, ngã xuống ngay bên cạnh. "Máu của anh em vương trên vai áo tôi, nóng hổi… Tôi gắng vác khẩu súng của đồng đội về căn cứ, coi như mang một phần linh hồn họ về", ông nhớ lại.
Một lần khác, năm 1968 ở xã Sơn Long (trước đây thuộc H.Tiên Phước, Quảng Nam), sau trận càn, đối phương trú trong ngôi làng. Đêm đó, đơn vị ông bí mật di chuyển, ém quân đánh địch. Ngay trong đêm, máy bay trực thăng đối phương thả pháo sáng phát hiện đội hình, bổ nhào xuống và trút đạn đại liên như mưa. Ông Hiệp trụ lại, kê nòng trung liên hướng lên bắn trả quyết liệt nhưng trúng đạn gãy tay, thủng cổ, bị thương cả chân. Lúc ông bị thương, đại đội trưởng tiếp quản khẩu trung liên quét vào sườn địch. Sau đó, vì vết thương quá nặng buộc ông phải ra Bắc điều trị. "Chắc nhờ số trời nên tôi còn sống", ông cười hiền, đôi mắt ánh lên sự an nhiên.

Ông Sáu Hiệp nhắc lại những vết thương ở từng trận đánh
ẢNH: PHẠM ANH
Cùng thời điểm ấy, ở Quảng Nam, Huỳnh Thị Lượt là cô gái trinh sát gan dạ của bộ đội tỉnh. Dù vóc dáng không to khỏe, nhưng bà nổi tiếng nhanh nhẹn, thông thạo đường rừng, từng nhiều lần dẫn đường cho bộ đội vào trận. Năm 1968, bị thương tích nặng trong trận đánh ác liệt đồn ở cầu Bà Rén nhưng bà vẫn kiên quyết ở lại cùng đồng đội, chỉ khi cơ thể kiệt sức mới chịu chuyển ra Bắc điều trị. Chính những vết thương ấy đã đưa bà đến cuộc gặp định mệnh với ông Hiệp.
Nơi tình yêu nảy nở
Năm 1974, tại Bệnh viện E2 (Hà Nội), hai con người xa lạ gặp nhau. Ông Hiệp bị thương nặng, nhiều sinh hoạt cá nhân không tự lo được. Bà Lượt thương cảnh đồng hương miền Trung xa xôi, lặng lẽ giúp đỡ: giặt giũ, chăm sóc, ngày nào cũng dìu ông đi tắm. "Mỗi lần bà xách thau nước cho tôi, tim tôi lại rộn ràng… Lúc đó mới biết trái tim mình cũng dễ rung động như vậy", ông kể, nụ cười còn vương chút ngượng ngùng. Tình yêu nhen nhóm từ sự sẻ chia, vun đắp bằng những việc giản dị hằng ngày. Ra viện, cả hai cùng được chuyển về Trường Văn hóa thương binh Phú Thọ. Chính nơi này, họ chính thức thổ lộ và sau đó tổ chức một đám cưới nhỏ.
Đám cưới của hai thương binh chẳng có mâm cao cỗ đầy, chỉ có đồng đội, thầy cô trong trường góp vui. Những tiếng cười, những cái nắm tay, ánh mắt chúc phúc đã làm nên kỷ niệm không bao giờ phai. Vài tháng sau thì đất nước thống nhất. Năm 1976, vợ chồng ông trở về Quảng Ngãi. Không lâu sau, họ đón cặp song sinh, hai cậu con trai được đặt tên Phú và Thọ, như một dấu mốc kỷ niệm tình yêu đã bắt đầu từ Phú Thọ.
Sau những năm tháng bom đạn, đôi vợ chồng thương binh chọn cuộc sống gắn bó với ruộng vườn. Trong căn nhà nhỏ, những bức tường mộc mạc chứng kiến bao mùa cau trĩu quả, bao buổi sáng ông bà cùng nhau ra vườn làm cỏ, tỉa cây. Ông Hiệp bảo: "Thương binh nhưng không phế binh. Còn sức thì cứ làm. Năm rồi vườn cau bán cũng được bốn mươi mấy triệu, đủ để trang trải". Bà Lượt ngồi bên chậm rãi tiếp lời: "Có khi hai vợ chồng chỉ cần bên nhau, con cháu mạnh khỏe là đủ vui rồi".

Hai ông bà vẫn chăm chỉ làm vườn, thỉnh thoảng lại kể cho con cháu nghe chuyện thời chiến
ẢNH: PHẠM ANH
Đời sống không dư dả, nhưng lúc nào trong nhà ông bà cũng rộn rã tiếng cười. Hai ông bà vẫn chăm chỉ làm vườn, nuôi gà, thỉnh thoảng lại kể cho con cháu nghe chuyện thời chiến. Mỗi khi nhớ lại những đồng đội đã ngã xuống, ánh mắt ông Hiệp ngậm ngùi: "Mình còn sống, còn có gia đình thế này là quá may mắn rồi".
Nửa thế kỷ đã qua, tình yêu ấy vẫn nguyên vẹn. Người ngoài nhìn vào có thể thấy họ khiếm khuyết: bà mất một mắt, liệt cánh tay; ông mang nhiều vết thương chằng chịt. Nhưng khi ở cạnh nhau, họ trở nên trọn vẹn. Ông Hiệp thường nói vui: "Hai cái khuyết ghép lại thành một cái đủ đầy". Trong mắt con cháu, họ là chỗ dựa vững chắc, là tấm gương về sự hy sinh, lòng kiên cường và tình yêu bền chặt. Với bà Lượt, hạnh phúc lớn nhất là vẫn được cùng ông đi qua những ngày bình dị, cùng nhau ngồi hiên nhà ngắm cau trổ buồng. Với ông Hiệp, hạnh phúc giản đơn chỉ là có vợ kề bên, bữa cơm chiều có tiếng bà lục đục trong bếp.
Họ đã đi qua những năm tháng bom đạn khốc liệt, mang trong mình vết thương cả thể xác lẫn tâm hồn, nhưng không gục ngã. Trái lại, họ còn biến mất mát thành sự gắn kết, biến đau thương thành tình yêu và sự bình an. Trong cái tĩnh lặng của làng quê hôm nay, câu chuyện tình của hai người thương binh già như ngọn lửa sưởi ấm bao thế hệ. Với những người trẻ, đó là lời nhắc nhở: hạnh phúc không đến từ sự hoàn hảo bên ngoài, mà đến từ sự sẻ chia và thủy chung.
Ngồi trong căn nhà nhỏ, ánh mắt họ vẫn ánh lên niềm tin. Bom đạn đã lùi xa nửa thế kỷ còn tình yêu ấy vẫn như ngày nào, nồng nàn, son sắt.