Tiềm năng xuất khẩu giáo dục của VN: Kinh nghiệm từ quốc tế

Hôm nay (27.2), Hội nghị và triển lãm giáo dục quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAIE) 2026 - một trong 4 sự kiện lớn nhất thế giới về giáo dục quốc tế - chính thức khép lại. Điều này cũng đánh dấu một cột mốc đáng lưu ý trong lĩnh vực giáo dục quốc tế ở VN bởi APAIE năm nay là nơi VN lần đầu tham dự với tư cách quốc gia và còn là nơi VN lần đầu tổ chức Triển lãm giáo dục VN (Vietnam Pavilion) giới thiệu cho bạn bè quốc tế.

VÌ SAO CHỌN VN ?

Chia sẻ từ Hồng Kông - nơi diễn ra APAIE 2026, PGS Phạm Huy Tuân, Phó viện trưởng Viện Đào tạo quốc tế, Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, nhận định đây là dịp quan trọng để các trường VN tìm kiếm đối tác, nhất là cho những hoạt động trao đổi sinh viên (SV), giảng viên và các cơ hội nghiên cứu quốc tế, bên cạnh việc thu hút SV quốc tế (SVQT). Đây còn là cơ hội để ĐH Việt quảng bá thương hiệu và tăng cường sự hiện diện quốc tế.

 - Ảnh 1.

Đại diện trường ĐH VN trao đổi với đối tác quốc tế tại sự kiện Tiêu điểm VN (Viet Nam Spotlight) tại Indonesia hồi tháng 2

ẢNH: NGỌC LONG

Việc chủ động tham gia các hội nghị, triển lãm giáo dục quốc tế và những sự kiện tương tự với tư cách quốc gia là điều cần thiết. Tuy nhiên theo các chuyên gia, hoạt động này nên là bộ phận của một chiến lược tổng thể được thiết kế phù hợp với đặc điểm của VN.

Trao đổi với Thanh Niên, ông Ben Burrowes, Giám đốc khu vực châu Á của Cơ quan Giáo dục New Zealand (ENZ) - đơn vị chịu trách nhiệm xuất khẩu giáo dục New Zealand ra thế giới, khuyến nghị để hiện thực hóa khát vọng xuất khẩu giáo dục, VN có thể cân nhắc thiết kế và vận hành một chiến lược giáo dục quốc tế của quốc gia - tương tự hướng tiếp cận của nhiều nước đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

"Chẳng hạn, New Zealand có Chiến lược giáo dục quốc tế 2022 - 2030 do Bộ Giáo dục New Zealand ban hành. Vào giữa năm 2025, chính phủ New Zealand công bố tiếp Kế hoạch phát triển giáo dục quốc tế tầm nhìn đến 2034, đặt ra các mục tiêu trọng tâm của chính phủ về giáo dục quốc tế và sắp tới sẽ có văn bản chi tiết hóa kế hoạch triển khai", ông Burrowes thông tin.

Chính phủ Anh hồi tháng 1 cũng công bố Chiến lược giáo dục quốc tế mới, có mục tiêu tới năm 2030 nâng giá trị xuất khẩu giáo dục lên 40 tỉ bảng/năm (khoảng 1,41 triệu tỉ đồng) - cao hơn 8 tỉ bảng so với hiện nay. Khác với chiến lược từng ban hành vào 2019, chiến lược mới chuyển trọng tâm từ số lượng SVQT sang xuất khẩu giáo dục ra nước ngoài thông qua giáo dục xuyên quốc gia (TNE), công nghệ giáo dục (EdTech), đào tạo ngôn ngữ Anh...

GS Steve Smith, Đại sứ giáo dục quốc tế của chính phủ Anh, cho Thanh Niên hay VN là một trong 5 thị trường ưu tiên của chính phủ Anh trong chiến lược mới. Ông lý giải điều này xuất phát từ 3 nguyên do: Chính phủ VN ủng hộ quốc tế hóa giáo dục, thị trường VN đủ lớn, và cuối cùng là có mô hình kinh doanh khả thi để đảm bảo các trường không bị thua lỗ khi đầu tư vào VN.

Ông cũng thông tin những nước thành công trở thành trung tâm giáo dục "thường là những nơi có hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng chặt chẽ", giúp SVQT yên tâm rằng chất lượng chương trình đào tạo ở đâu cũng như nhau và đều có tiêu chuẩn tốt nhất. Do đó, điều quan trọng VN cần làm là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và thu hút các ĐH hàng đầu mở phân hiệu - qua đó không chỉ phục vụ người học tại VN mà còn trong khu vực, theo GS Smith.

Tiềm năng xuất khẩu giáo dục của VN: Kinh nghiệm từ quốc tế - Ảnh 1.

GS Steve Smith, Đại sứ giáo dục quốc tế của chính phủ Anh

ảnh: Ngọc Long


CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG ĐANG LÀM GÌ ?

Tương tự VN, Indonesia cũng đang đặt mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục trong khu vực Đông Nam Á. Mới đây vào tháng 1, Tổng thống Prabowo Subianto trực tiếp đến Anh, kêu gọi loạt ĐH hàng đầu nước Anh hợp tác với chính phủ Indonesia thành lập 10 ĐH tại quốc gia này.

"Tổng thống muốn làm người thay đổi cuộc chơi", GS Stella Christie, Thứ trưởng Bộ Giáo dục ĐH, Khoa học và Công nghệ Indonesia, trao đổi với báo giới - trong đó có Thanh Niên - bên lề sự kiện về TNE do Hội đồng Anh tổ chức ở Indonesia hồi đầu tháng 2. "Để thay đổi hệ sinh thái giáo dục ở Indonesia, chúng tôi không chỉ hướng tới hợp tác song phương với từng trường ĐH, mà còn nâng tầm hợp tác lên cấp độ chính phủ với chính phủ", GS Christie chia sẻ.

Bà nhìn nhận thêm việc thu hút các trường ĐH hàng đầu tới hợp tác, ví dụ như Russell Group của Anh (hiệp hội gồm các trường công lập hàng đầu Anh trong đó có Oxford và Cambridge - PV), là cuộc cạnh tranh gay gắt.

Trong khi đó, ông Megat Mohd Samsul bin Megat Ismail, Quản lý cấp cao khu vực Đông Nam Á tại Ủy ban Giáo dục toàn cầu Malaysia (EMGS) - cơ quan quảng bá giáo dục quốc tế và hỗ trợ xử lý visa du học trực thuộc Bộ Giáo dục ĐH Malaysia, chia sẻ với Thanh Niên rằng nước này đã thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường tính quốc tế hóa, từ đó trở thành một trung tâm giáo dục quốc tế trong khu vực.

"Chúng tôi không đặt mục tiêu cạnh tranh với các quốc gia du học nói tiếng Anh", ông nói. Thay vào đó, Malaysia chọn thu hút nhiều phân hiệu quốc tế của các trường danh tiếng thế giới. Ngoài ra, Malaysia cũng hỗ trợ các ĐH nước này mở cơ sở đào tạo tại nước ngoài như Indonesia và Qatar.

Nhờ đó, Malaysia tới hiện tại đã trở thành một "trạm trung chuyển" trong khu vực, tạo điều kiện cho nhiều SVQT đến học các chương trình liên kết đào tạo và sau đó tiếp tục lấy bằng ở Anh, Úc. Tính tới 2023, nước này đã thu hút 170.000 SVQT, trong đó có nhóm nhỏ người Việt.

Một khuyến nghị khác là các cơ sở giáo dục ĐH không nên bỏ qua nguồn SVQT từ các thị trường láng giềng như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Philippines, theo tiến sĩ Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và chuyển giao tri thức (REK) thuộc Trường ĐH Thành Đô (Hà Nội).

Bởi, nếu nhìn vào lịch sử các nước có truyền thống thu hút SVQT như Mỹ, Úc, Anh..., hầu như tất cả luôn bắt đầu bằng việc thu hút thành công SV từ các quốc gia lân cận. Với Mỹ là Canada, Mexico, với Anh là Pháp, Ireland còn với Úc là New Zealand. Trong khi đó, người học từ Lào và Campuchia chiếm 80% trong tổng số 22.000 SVQT ở VN vào năm học 2023 - 2024, theo dữ liệu gần đây nhất từ Cục Hợp tác quốc tế (Bộ GD-ĐT).

Đáng chú ý, số lượng SVQT vừa nêu là kỷ lục cao nhất trong 9 năm qua, với khoảng 18.000 người nước ngoài đi học diện tự túc theo các thỏa thuận song phương cấp trường hay địa phương. Điều này cho thấy rõ nét tiềm năng xuất khẩu giáo dục ngày càng tăng của VN.

Xác định các mục tiêu chiến lược

GS Trần Thị Lý, chuyên gia giáo dục quốc tế công tác tại ĐH Deakin (Úc), nhấn mạnh VN cần xác định các mục tiêu chiến lược khi phát triển thành trung tâm giáo dục. Đó có thể là trung tâm người học (student hub) thu hút SVQT và nâng cao trải nghiệm học tập quốc tế; là trung tâm nhân tài (talent hub) phục vụ nhu cầu thị trường lao động và phát triển kỹ năng chuyên môn cao; là trung tâm tri thức và nghiên cứu (knowledge and research hub) để thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới và hợp tác học thuật quốc tế; là trung tâm định vị khu vực (regional positioning hub) để tăng quyền lực mềm, vai trò lãnh đạo và vị thế quốc gia trong khu vực.

Singapore là minh chứng cụ thể của việc kết hợp student hub, talent hub và knowledge and research hub. Nước này hỗ trợ phân hiệu của các ĐH hàng đầu, thu hút SVQT, đầu tư mạnh vào nghiên cứu, đồng thời gắn giáo dục với chiến lược đổi mới sáng tạo và thị trường lao động chất lượng cao.

Education City (Qatar) và Dubai International Academic City (UAE) thì đại diện cho mô hình tập trung theo khu quy hoạch (education hub within a designated zone), thu hút nhiều phân hiệu quốc tế trong một không gian được nhà nước đầu tư mạnh. Còn Malaysia thì phát triển mạng lưới phân tán địa điểm (decentralised institutional networks) nhưng thống nhất về chiến lược quốc gia.

GS Lý cho biết thêm Kazakhstan là ví dụ đáng chú ý về nỗ lực tự định vị như một trung tâm giáo dục của khu vực Trung Á. Thông qua cải cách ĐH, thu hút hợp tác quốc tế và lập các trường như ĐH Nazarbayev, nước này đã dùng giáo dục ĐH như một công cụ nâng cao vị thế khu vực và tăng cường ảnh hưởng trong không gian hậu Liên Xô.

Thời tiết

Văn hóa

Giải trí

Thể thao