Giáo dục xuyên quốc gia là gì, làm sao để phát triển tại Việt Nam?

Tháo gỡ thách thức để phát triển giáo dục xuyên quốc gia tại Việt Nam - Ảnh 1.

Sinh viên quốc tế từ Hàn Quốc tham gia chương trình trao đổi tại ĐH Việt Nam vào năm 2025

ẢNH: ĐẠI HỌC PHENIKAA

Thị trường TNE ở Việt Nam tuần trước chứng kiến bước tiến mới khi lần đầu một ĐH công lập của Hàn Quốc "nhượng quyền" đào tạo tại nước ngoài và chọn điểm đến Việt Nam. Đó là ĐH Quốc gia Kyungpook (KNU), phối hợp Trường ĐH FPT lập cơ sở đào tạo mang tên KNU Vietnam tại Hà Nội.

Đây là tín hiệu đáng khích lệ, vì theo các chuyên gia giáo dục quốc tế, TNE không chỉ cung cấp cơ hội theo học chương trình đào tạo quốc tế với phí phải chăng hơn so với du học toàn phần, mà còn tạo động lực cải cách hệ thống giáo dục trong nước. Đây cũng là mô hình thu hút nhiều trường ĐH Việt tham gia nhằm đa dạng hóa nguồn thu học phí, đạt mục tiêu quốc tế hóa từ đó tăng hiện diện trên các bảng xếp hạng ĐH toàn cầu...

Câu hỏi đặt ra là làm sao để mô hình này có thể phát triển bền vững trong bối cảnh thế giới biến động và xu hướng sinh viên quốc tế đổ về các quốc gia, vùng lãnh thổ ở châu Á, trong đó có khu vực Đông Nam Á.

Kinh nghiệm của các trường ĐH

Trao đổi với Thanh Niên, PGS-TS Lê Trung Thành, Viện trưởng Viện Đào tạo quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết sau hơn 20 năm vận hành TNE, nhà trường đã tự hình thành nên những triết lý riêng để giúp sinh viên không chỉ hoàn thành chương trình quốc tế theo chuẩn của đối tác quốc tế, mà còn tạo điều kiện để các bạn rèn luyện kỹ năng mềm và gắn kết với doanh nghiệp trong, ngoài nước.

Ông Thành nêu ví dụ, ĐH này sẽ cho sinh viên đi thực tập dù chương trình TNE không yêu cầu, hoặc tạo điều kiện cho sinh viên được lãnh đạo doanh nghiệp hướng dẫn (mentor) 1:1.

PGS-TS Thành cho biết thêm ĐH Kinh tế quốc dân cũng đang được cập nhật lại chiến lược quốc tế hóa giáo dục theo loạt nghị quyết mới của Trung ương, trong đó có việc nâng Viện Đào tạo quốc tế lên thành Trường Quốc tế. Và bên cạnh các đối tác truyền thống gồm Anh, Mỹ, Úc, đơn vị cũng đang đàm phán triển khai TNE với trường ĐH ở Nhật Bản, Hàn Quốc. Đây đều là những động lực giúp thúc đẩy phát triển các mô hình TNE tại trường.

Tháo gỡ thách thức để phát triển giáo dục xuyên quốc gia tại Việt Nam - Ảnh 2.

PGS-TS Lê Trung Thành chia sẻ trước các sinh viên quốc tế từ Nga, Pháp, Nhật Bản... đến học tại Viện Đào tạo quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân hôm 11.3

ẢNH: ISME

Tuy nhiên, PGS-TS Thành cũng chỉ ra rằng Thông tư 07/2025/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT hiện có một quy định chưa phù hợp với thực tiễn. Đó là yêu cầu giảng viên đang giảng dạy chương trình đào tạo tương ứng của cơ sở giáo dục ĐH nước ngoài chủ trì, chịu trách nhiệm tổ chức giảng dạy không ít hơn 25% tổng khối lượng của chương trình liên kết đào tạo.

"Điều này chỉ phù hợp với các trường mới triển khai các chương trình liên kết đào tạo được 3 - 5 năm. Họ chưa có nhiều kinh nghiệm nên cần huy động giảng viên quốc tế đến dạy để đảm bảo chất lượng. Nhưng với các trường có hơn 5 năm kinh nghiệm và quy tụ đội ngũ cán bộ, giảng viên thuần thục, quy định này không còn phù hợp", ông nhận định.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoài Thu, Viện trưởng Viện Đào tạo quốc tế, Học viện Ngân hàng, nhận định rằng khi bắt đầu thực hiện các chương trình TNE vào khoảng 20 năm trước, yêu cầu về trình độ tiếng Anh là thách thức đầu tiên. Để giải quyết, trường đã thiết kế thêm một năm dự bị ĐH để luyện ngoại ngữ, năng lực học trước khi cho phép các bạn vào học chuyên ngành.

Một khó khăn khác tới từ công tác quản lý, tức làm sao đảm bảo chất lượng đào tạo và trải nghiệm của người học, khi đối tác nước ngoài không tham gia quá nhiều vào công tác giảng dạy mà chủ yếu do giảng viên trong nước đứng lớp. Việc xác định hình thức TNE phù hợp, như nhập khẩu toàn phần hoặc bán phần (articulation) và có cách triển khai tương ứng cũng là một thử thách đáng chú ý.

Tuy nhiên, tiến sĩ Thu khẳng định các khó khăn nêu trên chỉ thường diễn ra trong giai đoạn đầu, khi nhà trường mới triển khai chương trình TNE. Dần dà, trong quá trình hợp tác, các trường sẽ ngày càng quen thuộc và vận hành ổn định hơn.

Trong khi đó, về khía cạnh sinh viên trong nước, PGS-TS Phạm Huy Tuân, Phó viện trưởng Viện Đào tạo quốc tế, Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, thông tin trường đang đối diện với một thử thách là sinh viên của trường lại không muốn ra nước ngoài trong khi sinh viên quốc tế rất tích cực tới Việt Nam, dù đây là một phần thỏa thuận theo các chương trình trao đổi sinh viên.

"Nguyên nhân là các bạn chưa có nhiều động lực đi trao đổi, chưa đủ tự tin hoặc sợ đi nước ngoài chỉ học được 1-2 môn trong khi ở lại nước có thể hoàn thành tới 3-4 môn. Thành thử ra các bạn đi trao đổi không hết suất, dẫn tới tình trạng cung vượt cầu", ông Tuân chia sẻ.

Một thử thách khác là vấn đề chỗ ở. Trong khi các trường nước ngoài có thể tiếp nhận đông đảo số lượng sinh viên từ các nước đến trao đổi, trong đó có Việt Nam, thì trường ĐH Việt nhiều khi lại không có quá nhiều chỗ ở trống trong ký túc xá cho sinh viên quốc tế. Đây là nguyên nhân khiến một số đơn vị, trong đó có Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, còn tỏ ra e dè khi tiếp nhận sinh viên quốc tế.

Tháo gỡ thách thức để phát triển giáo dục xuyên quốc gia tại Việt Nam - Ảnh 3.

PGS-TS Phạm Huy Tuân (thứ 2 từ phải qua) trao đổi cùng các đối tác quốc tế tại sự kiện APAIE 2026 tổ chức tại Hồng Kông mới đây

ẢNH: IIE

Hợp lực vượt qua rào cản

Không dừng ở nỗ lực trong nước, các tổ chức quốc tế cũng đang có nhiều động thái hỗ trợ cho công cuộc phát triển TNE tại Việt Nam. Đơn cử, Hội đồng Anh cuối năm 2025 đã phối hợp với 14 cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam và Anh để thành lập Mạng lưới Hợp tác TNE giữa Anh - Việt Nam (UK-Viet Nam EmpowerTNE), trong bối cảnh hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện hồi giữa năm 2025.

Trong số các trường thành viên tham gia mạng lưới có ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Kinh tế quốc dân, ĐH Phenikaa, Trường ĐH Ngoại thương...

Mạng lưới có 5 trụ cột vận hành chính là NetworkTNE (thiết lập mạng lưới và cơ chế vận hành), TrainTNE (nâng cao năng lực triển khai), ConnectTNE (hình thành hợp tác mới), ActTNE (thúc đẩy trao đổi sinh viên và hoạt động thực tiễn) và ThinkTNE (đối thoại chính sách, chia sẻ tri thức), theo PGS-TS Nguyễn Phú Khánh, Phó tổng giám đốc ĐH Phenikaa kiêm Chủ tịch Mạng lưới UK-Viet Nam EmpowerTNE.

"Mục tiêu của chúng tôi là không chỉ hợp tác ở phạm vi giữa Anh và Việt Nam, mà còn mở rộng ra các nước tại Đông Nam Á. Đó là bởi Việt Nam đang muốn trở thành một trung tâm giáo dục trong khu vực", ông Khánh nhận định.

Bà Hoàng Vân Anh, Giám đốc Chương trình giáo dục của Hội đồng Anh ở Việt Nam, thông tin một trong các chủ đề hoạt động của mạng lưới là "glocalisation" (bản địa hóa), tức giúp những chương trình liên kết đào tạo ở Việt Nam đạt chuẩn quốc tế nhưng được thiết kế phù hợp với nhu cầu của địa phương.

Đây là yếu tố góp phần giúp các trường trong nước hợp tác thành công với đối tác quốc tế và đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Ngoài ra, Hội đồng Anh còn hợp tác với Cục quản lý chất lượng (Bộ GD-ĐT) thực hiện dự án nâng cao hoạt động bảo đảm chất lượng và kiểm định giáo dục ĐH trong nước để hướng tới hội nhập quốc tế, với hỗ trợ từ Tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục ĐH của Anh (QAA). "Dự án góp phần hiện thực hóa mục tiêu nâng cao cả chất lượng giáo dục ĐH và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam của Bộ GD-ĐT", bà Vân Anh chia sẻ.

Tháo gỡ thách thức để phát triển giáo dục xuyên quốc gia tại Việt Nam - Ảnh 4.

Đại diện của các trường ĐH từ nhiều nước Đông Á, trong đó có Việt Nam, tham gia tọa đàm về phát triển TNE một cách bền vững tổ chức tại Indonesia hồi tháng 2

ẢNH: NGỌC LONG

GS Steve Smith, Đại sứ giáo dục quốc tế của Chính phủ Anh, cho biết ở bình diện quốc tế, có một số rào cản phổ biến trong quá trình triển khai TNE là cho phép ĐH nước ngoài hoạt động nhưng lại không công nhận văn bằng; cho phép mở phân hiệu nhưng không cho phép sở hữu tài sản; hay không cho phép trường nước ngoài chuyển lợi nhuận về nước...

"Đó là nhiều vấn đề chúng tôi phải tìm cách giải quyết, trong đó quan trọng nhất vẫn là câu hỏi liệu bằng cấp có được công nhận hay không", GS Smith nói với Thanh Niên bên lề tuần lễ giáo dục Đông Á do Hội đồng Anh tổ chức tại Indonesia đầu tháng 2 vừa qua.

Sự vào cuộc và hỗ trợ mạnh mẽ từ cấp cao nhất là một trong những nguyên nhân giúp Anh trở thành quốc gia có các hoạt động hợp tác liên kết đào tạo từ rất sớm và hiện cũng là quốc gia dẫn đầu với 70 chương trình, theo số liệu tính tới tháng 6.2025 của Bộ GD-ĐT. Và tính tới năm học 2023-2024, có 12.620 người Việt học tại các chương trình liên kết đào tạo với Anh, theo Cơ quan Thống kê giáo dục ĐH Anh (HESA).

Mức này tăng 25% so với cùng kỳ năm trước đó, đưa Việt Nam thành quốc gia có số lượng người học các chương trình liên kết đào tạo của Anh tăng cao nhất trong khu vực Đông Á.

TNE là hoạt động giáo dục thực hiện ở một nước ngoài quốc gia của cơ sở cấp bằng. Ngoài học trực tiếp ở phân hiệu của ĐH nước ngoài hay học từ xa, TNE còn có các hình thức hợp tác như liên thông, chuyển đổi tín chỉ, liên kết đào tạo theo mô hình 3+1, 2+2, 4+0 và 3+0, trong đó người học học hoàn toàn ở quốc gia của mình hoặc có 1-2 năm học tại cơ sở chính của trường ĐH nước ngoài, theo bà Hoàng Vân Anh.

Thời tiết

Văn hóa

Giải trí

Thể thao