Thật nhiều Bá Đạt, Bá Quát
"Nhà Chu có tám hiền sĩ gồm Bá Đạt, Bá Quát v.v.", câu nói được ghi lại trong Luận ngữ, cuốn sách kinh điển của nhà Nho, vẫn có sức mạnh quyền uy to lớn dù chỉ vỏn vẹn đôi lời. Bá Đạt, Bá Quát vô tình trở thành một trong số những cái tên được nhà Nho VN hết sức ưa chuộng.
Chẳng phải vậy ư? Có một Lê Bá Quát, tên tự là Bá Đạt, học trò giỏi của Chu An (Chu Văn An), làm quan dưới triều Trần Dụ Tông; một Lê Bá Đạt được thăng làm tri phủ phủ Bắc Bình vào năm 1468; cùng năm, một Lê Bá Đạt khác ngang nhiên phi ngựa giữa chợ đông, để mặc cho gia nô đánh người, liên lụy tới ông bố bị cách chức; lại còn một Trịnh Bá Quát và Nguyễn Bá Đạt bị xử tử dưới thời Lê Chiêu Tông; một Phan Bá Đạt giữ chức Thượng thư bộ Lễ kiêm bộ Hình dưới triều vua Minh Mạng…

Con cái trở thành ông tiến sĩ vinh quy là mong ước của nhiều người
ẢNH: TL NHÃ NAM CUNG CẤP
Dù sao, khi đặt tên cho hai đứa con sinh đôi, ông thầy thuốc Cao Huy Tham hẳn đã đắn đo suy nghĩ nhiều lắm, đã lục tìm trong ký ức những câu châm ngôn có xuất xứ kinh điển. Và rõ ràng tên của hai anh em hiền sĩ nhà Chu được nhắc tới trong Luận ngữ là lựa chọn chẳng thể hợp lý hơn. Cao Huy Tham đặt tên cho anh con chào đời trước là Bá Đạt, cậu em ra sau là Bá Quát.
Với cá tính quái kiệt cùng tư tưởng cao kỳ từ khi còn trẻ, Cao Bá Quát không chịu nổi những quy cách câu nệ chữ nghĩa đến tủn mủn của hệ thống thi cử đương thời. Mặc dù con đường thi cử và hoạn đồ trắc trở, nhưng ngay từ đầu, khi quyết định dấn thân vào quan trường, họ Cao đã lập chí kinh bang tế thế để gây dựng công danh, bộc lộ qua tên tự ngầm ví mình với người bề tôi góp sức xây dựng nên một "nhà Chu" thịnh trị: Chu Thần.
Khiến cha mẹ vẻ vang, khiến tên tuổi lẫy lừng
Đối với Nho sĩ, mục đích cao cả của cuộc đời có lẽ chẳng có gì hơn việc gây dựng công danh, lưu lại tên tuổi cùng trời đất. Chí ít họ tạo dựng niềm tin, con đường để dấn thân như vậy. Có một Hưng Đạo vương khích lệ tướng sĩ đánh quân Nguyên: "Chẳng những đời ta đắc chí, mà các ngươi trăm đời sau, vẫn bất hủ tên thơm; chẳng những tên thụy của ta mãi mãi để đời, mà tên họ của các ngươi cũng lưu lại tiếng thơm vào sử sách".
Danh tính, thứ căn cước để đời trong nhãn quan Nho giáo, bởi vậy không thể là từ ngữ thô tục tầm thường, phải được trang hoàng bằng chữ hay nghĩa đẹp, phải thể hiện được sự văn nhã, súc tích, cũng như chí hướng của kẻ sĩ đại phu… Nếu tên khai sinh được đặt sẵn là sự bị động mang tính áp đặt thì những tên tự, hiệu được đặt sau này thường là sự chủ động có ý thức. Vua Minh Mạng bởi vậy nhắn nhủ: "Nhìn đến cái tên nghĩ ngay tới ý nghĩa, làm sao phải khiến cha mẹ vẻ vang, khiến tên tuổi lẫy lừng".
Khi ý thức về giá trị bản thân đã bén rễ, cũng là lúc lòng tự tôn được gây dựng vững chắc. Nếu đứng trước vua và cha, những thân phận được coi là bề trên đáng kính, theo phép tắc "quân tiền thần danh, phụ tiền tử danh", kẻ sĩ mới chẳng ngại xưng tên. Trong giao tiếp xã hội thông thường, nhỏ dùng tên, trưởng thành đặt tự, mục đích là nhằm kính trọng húy danh. Để người khác khỏi cảm thấy ngại ngần khi phạm tới tên húy, cũng như gìn giữ được sự tôn nghiêm, người ta đặt thêm một cái tên phái sinh, dùng thay cho tên gốc, gọi là tên tự. Trong hầu hết trường hợp, tên tự là sự gợi nhắc về tên gốc, có liên hệ ý nghĩa nhất định (có thể đồng nghĩa hoặc trái nghĩa), hoặc không cũng thể hiện một nét đạo đức, một tinh thần thường trực hướng về. Còn tên gốc, lắm khi cả đời phải giấu nhẹm, chỉ đến phút lâm chung, người nhà mới gọi thẳng ba tiếng hú hồn, không cần kiêng dè đọc chệch.
Việc xưng hô bằng tên tự ngoài bày tỏ thái độ tôn trọng, còn thể hiện phần nào quan hệ thân quen. Tùng Thiện Vương Miên Thẩm viết thơ về Cao Bá Quát đặt tên Nhớ Cao Chu Thần. Cao Bá Quát làm thơ họa lại Vũ Tông Phan, gọi bạn là Vũ Hoán Phủ tiên sinh… Trong trường hợp xã giao, bày tỏ thái độ kính trọng, họ đi kèm tên hiệu hoặc chức danh là cách xưng hô phổ biến hơn cả. Như Trần Nguyên Đán chúc mừng Chu An giữ chức tư nghiệp Quốc tử giám gọi ông là Tiều Ẩn Chu tiên sinh. Phan Phu Tiên khi chúc mừng Nguyễn Trãi thăng chức, gọi ông là Gián Nghị đại phu Nguyễn Ức Trai. Bùi Huy Bích cùng các bạn đồng môn gọi người thầy Lê Quý Đôn là Quế Đường tiên sinh, khi tiễn thầy vào làm hiệp trấn ở Thuận Hóa lại gọi là Quế Đường tướng công. Còn Phan Đình Phùng viếng Hoàng Diệu, tự xưng ngu đệ, gọi Hà Ninh tổng đốc Hoàng đại nhân… Đặc biệt đối với người đã khuất, để duy trì sự tôn nghiêm, đôi khi đề cập bằng thụy hiệu (hoặc miếu hiệu đối với vua chúa), những dạng căn cước được đặt ra để hình dung về đạo đức, tinh thần của người mất lúc sinh thời.
Ngoài những tên hiệu đặc biệt được đặt khi mất, tên trai hiệu, bút hiệu là những căn cước có thể tùy ý đặt dùng, không hạn chế số lượng, thường ghi lại những trải nghiệm của đời sống cá nhân, cảnh vật xung quanh nơi đọc sách, hoặc tâm trạng, tinh thần hướng vọng ở thời điểm nào đó trong cuộc đời. (còn tiếp)
(Trích từ cuốn Họ và tên: một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt, tác giả Trần Quang Đức, NXB Thế giới, Công ty Nhã Nam)