Cho tôi hỏi, nếu một người đưa tiền cho một cán bộ để nhờ xin việc, chạy chức trong một cơ quan nhà nước nhưng người nhận tiền không giúp được gì. Nếu làm đơn tố cáo thì có bị xử lý hình sự không? Nếu bị xử lý thì ở tội danh gì với vai trò là gì?
Ngoài ra, tôi thấy còn có trường hợp do tin tưởng người quen vì họ nói chơi với ông "to" nên đã đưa tiền để nhờ họ tác động xin việc cho. Nhưng sau đó người này lấy luôn tiền và không giúp được gì. Vậy nếu tố cáo ra công an thì người đưa tiền và nhận tiền bị xử lý thế nào?
Theo luật sư, cần phải làm gì để không bị xử lý hình sự khi tố cáo ra công an?
Bạn đọc Hải Văn.
Luật sư tư vấn
Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Công ty luật TNHH HPL và cộng sự) tư vấn theo quy định người nào có hành vi trực tiếp, hoặc qua trung gian đưa tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác cho người có chức vụ, quyền hạn để họ làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của mình thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "đưa hối lộ" tại điều 364 bộ luật Hình sự.

Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Công ty luật TNHH HPL và cộng sự)
ẢNH: NVCC
Theo đó, tùy thuộc vào giá trị của tài sản đưa hối lộ, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi người phạm tội có thể bị phạt tù lên đến 20 năm và phạt tiền từ 10 - 50 triệu đồng.
Trong trường hợp người đưa tiền biết rõ người nhận tiền là cán bộ, hoặc là người có khả năng tác động đến cán bộ nhằm giúp xin việc, xin biên chế hoặc thăng chức, thì hành vi đưa tiền có dấu hiệu của hành vi đưa hối lộ.
Khi đó, người đưa tiền có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò là người đưa hối lộ. Người nhận tiền nếu là người có chức vụ, quyền hạn thì có thể bị xử lý về tội "nhận hối lộ" theo quy định tại điều 354 bộ luật Hình sự, với mức hình phạt có thể lên đến 20 năm tù.
Trong trường hợp có người đứng ra làm trung gian kết nối việc đưa và nhận tiền có thể bị xử lý về tội "môi giới hối lộ" theo điều 365 bộ luật Hình sự với mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 15 năm tù và phạt tiền từ 20 - 200 triệu đồng.
Cần lưu ý rằng, việc sau đó người nhận tiền không thực hiện được lời hứa xin việc, hoặc không đạt được kết quả như thỏa thuận ban đầu không làm thay đổi bản chất pháp lý của hành vi đưa tiền. Bởi chỉ cần việc đưa tiền nhằm mục đích tác động đến việc thực hiện công vụ là đã có dấu hiệu của hành vi hối lộ.
Ở một tình huống khác khá phổ biến, người nhận tiền thực chất không phải là cán bộ nhà nước mà chỉ là người quen biết, tự nhận có quan hệ với lãnh đạo hoặc có khả năng "chạy việc".
Nếu người này dùng những thông tin gian dối để tạo lòng tin, nhận tiền rồi chiếm đoạt mà thực tế không có khả năng xin việc, hoặc không có ý định thực hiện lời hứa, thì hành vi đó có thể cấu thành tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điều 174 bộ luật Hình sự.
Khi đó, người nhận tiền có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, còn người đưa tiền thường được xác định là người bị hại trong vụ án.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải làm rõ mục đích của việc đưa tiền. Nếu chứng minh được rằng người đưa tiền biết rõ việc đưa tiền nhằm mục đích hối lộ cán bộ nhà nước, thì họ vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi đưa hối lộ.
Từ những vụ việc đã xảy ra trong thực tế, có thể thấy rằng các thỏa thuận "chạy việc", "chạy chức" không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất tiền, bị lừa đảo, mà còn có thể kéo theo rủi ro pháp lý nghiêm trọng cho cả người đưa và người nhận tiền.
Vì vậy, cách tốt nhất để tránh những hệ lụy pháp lý này vẫn là tuyệt đối không tham gia vào các giao dịch mang tính "xin - cho" bằng tiền trong lĩnh vực công vụ.