
Những rào cản từ thị trường Mỹ và chiến sự Trung Đông đã khiến ngành cá ngừ chịu tác động bất lợi nhiều phía
ẢNH: Đ.N.T
Xuất khẩu cá ngừ sụt giảm
Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, sau khi tăng 13% trong tháng 1, giá trị xuất khẩu cá ngừ trong tháng 2.2026 chỉ đạt hơn 53 triệu USD, giảm gần 15% so với cùng kỳ năm trước. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam giải thích, cá ngừ là một trong những nhóm hàng "gây lo ngại" khi đang chịu sức ép đồng thời từ nhu cầu thị trường, chi phí logistics và yếu tố chính sách. Mỹ vẫn tiếp tục là thị trường lớn nhất của cá ngừ Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2026, đạt hơn 42 triệu USD, chiếm 32,8% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, xuất khẩu sang thị trường này lại giảm 15% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp đang nỗ lực khai thác các thị trường khác như Nga (tăng 27%), Đức (tăng 10%), Israel (tăng 61%), Mexico (tăng 36%), Ai Cập (tăng 24%), Chile (tăng 111%)... nhưng vẫn không đủ bù đắp vào sự sụt giảm từ thị trường Mỹ.
Thực tế, diễn biến khó khăn này đã được dự báo từ cuối năm trước khi Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia bị NOAA (Cục Quản lý đại dương và khí quyển Mỹ) từ chối kết quả tương đương đối với một phần nghề cá, dẫn đến một số sản phẩm liên quan bị cấm nhập khẩu vào Mỹ, hoặc phải nộp giấy chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản đạt yêu cầu xuất khẩu vào Mỹ (COA) để chứng minh lô hàng không thuộc diện bị cấm. Điều này làm tăng chi phí hồ sơ, kéo dài thời gian thông quan. Không chỉ chịu sức ép chính sách, ngành cá ngừ còn đối mặt với bài toán chi phí đầu vào và logistics. Chiến sự tại Trung Đông đã làm cho giá xăng dầu thế giới leo thang, phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh cho vận tải biển đã tăng rất mạnh, một số trường hợp tăng hơn 1.000%. Với các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ, điều này không chỉ làm tăng cước vận tải và phụ phí, mà còn kéo theo rủi ro chậm giao hàng, đảo lịch tàu và co hẹp biên lợi nhuận, đặc biệt với các tuyến sang Trung Đông, châu Âu và Bắc Phi.
Liệu có còn cơ hội cho cá ngừ?

Xuất khẩu cá ngừ sang Mỹ đang giảm mạnh
ẢNH: VASEP
VASEP thừa nhận, tình hình xuất khẩu những tháng đầu năm 2026 cho thấy thị trường cá ngừ Việt Nam đang ở trạng thái giằng co. Đà tăng trong tháng 1 cho thấy thị trường vẫn còn dư địa, nhưng nhịp chững lại trong những tháng sau đó, dấu hiệu ngành cá ngừ năm nay sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào năng lực thích ứng chính sách, kiểm soát chi phí và tái cơ cấu thị trường của doanh nghiệp. Xét theo cơ cấu sản phẩm, các sản phẩm cá ngừ chế biến và đóng hộp (mã HS18) đang có xu hướng tăng trưởng liên tục. Diễn biến này phù hợp với diễn biến của thị trường cá ngừ thế giới. Khi tình hình thế giới bất ổn, người tiêu dùng tại nhiều nước tiếp tục ưu tiên các sản phẩm tiện lợi, dễ bảo quản và có giá hợp lý. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam có thể gia tăng các đơn hàng chế biến có thời hạn sử dụng dài.
Về những rào cản trong chính sách luật pháp từ thị trường Mỹ, trong khuôn khổ Hội chợ Thủy sản Bắc Mỹ tổ chức tại TP.Boston, bang Massachusetts (Mỹ) mới đây, Cơ quan đại diện và Thương vụ Việt Nam tại Mỹ đã phối hợp với VASEP tổ chức buổi làm việc với đại diện Viện Thủy sản quốc gia Mỹ (NFI) cùng các chuyên gia và doanh nghiệp trong ngành nhằm trao đổi về các vấn đề liên quan đến quy định của Mỹ đối với thủy sản nhập khẩu, đặc biệt là việc thực thi Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển (MMPA) của NOAA.
Tại buổi làm việc, đại diện phía Việt Nam đã trao đổi với NFI về tiến trình triển khai các yêu cầu của Mỹ theo MMPA. Phía Việt Nam cho biết, hiện còn một số nghề khai thác đang trong quá trình đánh giá và cần tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu để đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật của Mỹ. Các chuyên gia của NFI đánh giá cao việc phía Việt Nam chủ động duy trì đối thoại trực tiếp với NOAA, đặc biệt là việc tổ chức các cuộc họp kỹ thuật nhằm làm rõ các nội dung liên quan đến hệ thống quản lý nghề cá, cơ chế giám sát hoạt động khai thác và các biện pháp giảm thiểu tác động đối với động vật có vú biển.
Các chuyên gia cũng cho rằng, một trong những thách thức hiện nay là việc thiếu dữ liệu dài hạn về tương tác giữa hoạt động khai thác thủy sản và các loài động vật có vú biển. Do nhiều chương trình quản lý và giám sát mới được triển khai trong thời gian gần đây nên chưa đủ thời gian để hình thành bộ dữ liệu đầy đủ phục vụ đánh giá của NOAA.
Trên cơ sở đó, phía NFI khuyến nghị Việt Nam tiếp tục làm rõ các biện pháp đang được triển khai nhằm tăng cường thu thập dữ liệu, trong đó có hệ thống nhật ký khai thác của ngư dân, chương trình quan sát viên, cũng như các biện pháp giảm thiểu bycatch (sản lượng đánh bắt không chủ đích).
Hai bên thống nhất sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp trong thời gian tới nhằm chuẩn bị tốt cho các cuộc làm việc với NOAA và các cơ quan liên quan của Mỹ, qua đó góp phần tháo gỡ các vướng mắc kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ.