Người 'giữ hồn' mộc bản và khát vọng mở rộng lưu trữ ra cộng đồng

Đồng chủ biên cùng TS Nguyễn Xuân Hoài, nhưng TS Phạm Thị Huệ được xem là "linh hồn" của ấn phẩm dù bà đã nghỉ hưu 13 năm nay. Với bà, lưu trữ không chỉ là nghiệp vụ hành chính, mà là hành trình bảo vệ ký ức dân tộc.

Người 'giữ hồn' mộc bản và khát vọng mở rộng lưu trữ ra cộng đồng- Ảnh 1.

Tư liệu mộc bản lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

ẢNH: TTLTQGIV

Từ kho lưu trữ đến ký ức cộng đồng

Nhiều năm công tác tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, TS Phạm Thị Huệ đã trực tiếp tham gia sưu tầm, bảo quản, chỉnh lý và phát huy giá trị mộc bản – khối tư liệu quý hiếm được UNESCO ghi danh là di sản tư liệu thế giới. Bà từng chia sẻ, mỗi tấm mộc bản không chỉ là bản khắc gỗ, mà là "trang sử sống", chứa đựng trí tuệ và tầm nhìn quản trị của cha ông.

Người 'giữ hồn' mộc bản và khát vọng mở rộng lưu trữ ra cộng đồng- Ảnh 2.

Sách mới "Đồng hành cùng di sản – Từ lưu trữ quốc gia đến lưu trữ nhân dân"

ẢNH: LÂM VIÊN

Từ trải nghiệm thực tiễn ấy, cuốn sách đặt ra một thông điệp rõ ràng: lưu trữ không phải là phạm trù "bí mật" khép kín trong kho tàng nhà nước, mà cần được lan tỏa để cộng đồng cùng tham gia gìn giữ.

Theo nhóm tác giả, bên cạnh lưu trữ quốc gia, còn có "lưu trữ nhân dân" – nơi những tài liệu gia đình, dòng tộc, tôn giáo, làng xã được trân trọng và bảo tồn đúng cách. Khi mỗi người ý thức rằng những bức thư cũ, gia phả, sắc phong hay bản kinh cổ đều là di sản, hành trình bảo tồn sẽ không còn đơn độc.

Đề cao những người thầm lặng đồng hành

Một điểm đáng chú ý trong "Đồng hành cùng di sản – Từ lưu trữ quốc gia đến lưu trữ nhân dân" là cách cuốn sách gián tiếp tôn vinh những cá nhân, tập thể đã âm thầm cộng tác với các Trung tâm Lưu trữ quốc gia suốt nhiều thập niên.

Người 'giữ hồn' mộc bản và khát vọng mở rộng lưu trữ ra cộng đồng- Ảnh 3.

TS Phạm Thị Huệ (áo đen, đứng giữa) giới thiệu đặc điểm mộc bản Triều Nguyễn với Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam

ẢNH: TTLTQGIV

Đó là các nhà nghiên cứu, cán bộ chuyên môn, nhà báo, đại sứ các nước, những người dân tự nguyện cung cấp tư liệu, các tổ chức tôn giáo gìn giữ kinh sách cổ, các dòng họ bảo tồn gia phả quý. Chính họ đã góp phần làm giàu thêm khối di sản tư liệu, đặc biệt là Châu bản triều Nguyễn và mộc bản Triều Nguyễn – hai di sản tiêu biểu của Việt Nam.

Cuốn sách "Đồng hành cùng di sản – Từ lưu trữ quốc gia đến lưu trữ nhân dân" dày trên 700 trang, với gần 100 bài viết, không chỉ là tiếng nói học thuật, mà còn là lời tri ân những "người giữ ký ức" thầm lặng.

Trong lời giới thiệu cuốn sách, TS Trần Hoàng, Phó chủ tịch Hội Văn thư lưu trữ Việt Nam, Nguyên Cục trưởng cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước viết: "Cuốn sách là một góc ký ức, là những trang nhật ký. Tất cả các bài viết đều là sự thật được minh chứng bằng những hình ảnh chụp cụ thể vào thời điểm đó, về con người đó, về sự kiện mà bài viết nói tới".

Lưu trữ trong thời đại mở

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập, tác phẩm cũng bàn đến việc ứng dụng công nghệ, số hóa tư liệu, mở rộng khả năng tiếp cận để di sản không còn nằm yên trong kho. Khi dữ liệu được số hóa, khi câu chuyện lịch sử được kể lại bằng công nghệ mới, di sản có thể trở thành nguồn lực cho giáo dục, du lịch và sáng tạo văn hóa.

Người 'giữ hồn' mộc bản và khát vọng mở rộng lưu trữ ra cộng đồng- Ảnh 4.

Mộc bản triều Nguyễn đề mục tổng quan, công trình nghiên cứu đặc biệt của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

ẢNH: TTLTQGIV

Nhưng trên hết, điều TS Phạm Thị Huệ gửi gắm là thay đổi nhận thức: lưu trữ không phải là việc của riêng cơ quan nhà nước, mà là trách nhiệm chung của xã hội. Mỗi tài liệu được gìn giữ hôm nay có thể trở thành "báu vật" của mai sau.

"Đồng hành cùng di sản – Từ lưu trữ quốc gia đến lưu trữ nhân dân" vì thế không chỉ mở rộng biên độ nghiên cứu, mà còn mở ra một cách nghĩ mới: di sản chỉ thật sự sống khi có cộng đồng đồng hành.

Thời tiết

Văn hóa

Giải trí

Thể thao