Cần chỉnh sửa Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Bộ GD-ĐT công bố lựa chọn một trong 3 bộ sách giáo khoa (SGK) hiện hành làm bộ sách dùng chung trên phạm vi cả nước từ năm học 2026 - 2027. Có thể hiểu đây là một giải pháp mang tính tình thế nhằm đáp ứng Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, nội dung chương trình giáo dục phổ thông thế nào thì SGK buộc phải thể hiện như vậy và khó có thể khác nhiều. Khi bản thân chương trình còn tồn tại những bất cập thì SGK khó có thể đạt được tính chuẩn mực, và càng khó hỗ trợ giáo viên, học sinh (HS) thay đổi phương pháp dạy học cũng như đổi mới kiểm tra, đánh giá, những hoạt động vốn đã rất khó khăn trong thực tiễn.

Hệ quả là chất lượng giáo dục khó đạt được mục tiêu đổi mới theo kỳ vọng của Nghị quyết 29/TW.

HAI LUỒNG LỰA CHỌN KHI LÊN THPT

Chính vì thế, trước mắt cần chỉnh sửa Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (Chương trình 2018) trước khi chỉnh sửa SGK, bộ dùng chung.

Chương trình 2018 được ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26.12.2018 (Thông tư 32), trong đó chia chương trình thành 2 giai đoạn: giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp.

Cần chỉnh sửa Chương trình giáo dục phổ thông 2018 - Ảnh 1.

Học sinh lớp 9 thuộc giai đoạn giáo dục cơ bản trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018

ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH

Tuy nhiên, cần xem xét lại cách phân chia này, đặc biệt là mức độ đồng bộ với chủ trương giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng HS theo Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14.5.2018 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 522).

Với giai đoạn giáo dục cơ bản tương ứng với 9 năm đầu của giáo dục phổ thông, có thể cân nhắc gọi là giáo dục cơ bản và toàn diện.

"Cơ bản" là tập trung vào nền tảng, cốt lõi, những yếu tố quan trọng nhất quyết định bản chất của chương trình. Tuy nhiên, cần bổ sung khía cạnh "toàn diện" để bao quát đầy đủ các mặt và mối liên hệ giữa chúng, tránh bỏ sót bất kỳ thành tố quan trọng nào. Cách tiếp cận này giúp chương trình vừa xác định rõ trọng tâm, vừa có cái nhìn tổng thể và cân đối.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, theo Thông tư 32, giai đoạn THPT được hiểu là việc phân chia HS lớp 10 theo các tổ hợp môn học, và chương trình coi đây là hình thức định hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên, cách làm này trên thực tế vẫn chỉ là học văn hóa theo lộ trình tuyến tính, tương tự cấp tiểu học và THCS.

Trên nguyên tắc, cần hài hòa giữa năng lực, hứng thú cá nhân với nhu cầu xã hội và theo thông lệ quốc tế, giáo dục định hướng nghề nghiệp phải giúp HS lựa chọn con đường phù hợp nhất với bản thân, đồng thời đáp ứng yêu cầu phân công lao động của quốc gia, tránh tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ".

Vì vậy ở giai đoạn THPT, chương trình cần được thiết kế theo hai cấp độ, hai luồng: Trung học nghề: dành cho đa số HS (theo tỷ lệ quá bán); trung học học thuật: dành cho HS có năng lực học tập nổi trội, nhằm tạo nguồn cho giáo dục ĐH (với tỷ lệ không quá 35%).

Cần chỉnh sửa Chương trình giáo dục phổ thông 2018 - Ảnh 2.

Học sinh trong giờ học khoa học tự nhiên, một môn tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông 2018

ảnh: Đào Ngọc Thạch

BẮT BUỘC PHẢI CÓ CHUẨN NĂNG LỰC ĐẦU RA

Theo khoa học giáo dục, một chương trình giáo dục bắt buộc phải ban hành chuẩn kiến thức - kỹ năng, hay còn gọi là chuẩn năng lực đầu ra. Đây là cơ sở để định hướng và điều tiết hoạt động dạy học, đánh giá HS, đồng thời làm khuôn cho việc xây dựng đề kiểm tra, đề thi.

Khi có chuẩn, hội đồng thẩm định về chương trình hoặc thẩm định về SGK sẽ có căn cứ khoa học rõ ràng để đánh giá và thẩm định. Hay nói cách khác, cần có cái "gậy" để phán xét và quyết định.

Việc ban hành chuẩn đòi hỏi phải xây dựng một hệ tiêu chí khoa học, có thể đo lường hoặc nhận diện được và có khả năng bao trùm các môn học, khung đánh giá, cũng như cấu trúc đề kiểm tra, đề thi cho cả 12 lớp học phổ thông.

Bộ chuẩn này cần được nghiên cứu công phu, thẩm định nghiêm ngặt bởi các chuyên gia, trước khi Bộ GD-ĐT ký ban hành; không thể chỉ dừng lại ở những mô tả chung chung hay giải thích khái quát về chuẩn của Chương trình 2018.

Thực tế cho thấy những năm qua, các cơ sở giáo dục gặp nhiều khó khăn trong việc đánh giá HS theo 5 phẩm chất và 10 năng lực. Cách hiểu và vận dụng giữa các địa phương, nhà trường còn thiếu thống nhất. Việc xây dựng đề kiểm tra, dù có dựa trên 4 mức độ năng lực, vẫn thiếu sự tương đương giữa các trường và vùng miền do không có thước đo cụ thể, tường minh. Ngay cả các kỳ thi quốc gia cũng chủ yếu dựa trên phương pháp chuyên gia, chưa có chuẩn Chương trình 2018 làm căn cứ thống nhất đề thi.

Hoàn thiện, phát triển, chuẩn bị cho giai đoạn mới

Theo Bộ GD-ĐT, Chương trình 2018 đáp ứng nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết số 29-NQ/TW: "Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn".

Thực hiện mục tiêu "phân luồng mạnh sau THCS; THPT phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng", nội dung giáo dục được xây dựng theo hướng tích hợp ở các cấp học dưới và phân hóa theo định hướng nghề nghiệp ở cấp học trên để tạo thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động dạy học gắn với thực tiễn, qua đó phát triển năng lực HS.

Tháng 10.2025, Bộ GD-ĐT đã tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá kết quả triển khai chương trình, SGK giáo dục phổ thông giai đoạn 2020 - 2025. Tại đây, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh: "Ngành giáo dục đã hoàn thành một chu trình trọn vẹn từ lớp 1 đến lớp 12, đạt được cả chiều rộng và chiều sâu, đáp ứng mục tiêu của chương trình mới - một cuộc đổi mới toàn diện ở bậc học phổ thông".

Theo ông Sơn, chương trình mới có nhiều yếu tố khác biệt, "phi truyền thống", đòi hỏi sự thích ứng mạnh mẽ, chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học - một thay đổi mang tính triết lý sâu sắc.

Về nhiệm vụ thời gian tới, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nêu rõ: "Chúng ta vừa phải duy trì, hoàn thiện việc đã làm, vừa chuẩn bị cho giai đoạn mới". Theo đó, cần rà soát, hoàn thiện, phát triển chương trình sau thời gian vận hành, thực hiện một cách khoa học, bài bản. Các địa phương cần tiếp tục tham mưu cho chính quyền, quan tâm hơn tới điều kiện triển khai chương trình, gồm cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính và đội ngũ.

Khẳng định đội ngũ nhà giáo là yếu tố then chốt, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh: Vấn đề không chỉ ở số lượng, mà quan trọng hơn là năng lực, trình độ và khả năng thích ứng của giáo viên với yêu cầu mới, đặc biệt là dạy học tích hợp, phát triển phẩm chất, năng lực HS.

Tuệ Nguyễn

Những hạn chế này cần sớm được khắc phục nhằm bảo đảm công bằng và bình đẳng trong giáo dục. Khi không có chung một chuẩn, sẽ không thể đưa ra những kết luận chính xác về chất lượng giáo dục của một nhà trường, địa phương hay trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, Chương trình 2018 hiện chưa có các chương trình phù hợp cho các nhóm đối tượng người học và vùng dân cư rất đa dạng, gây khó khăn cho mục tiêu phổ cập giáo dục và làm gia tăng nguy cơ phân hóa chất lượng giáo dục. Điều này chưa phù hợp với tinh thần nhân văn của nền giáo dục VN.

Việc chưa ban hành chuẩn còn để lại hệ quả nghiêm trọng khác là tình trạng quá tải chương trình. Theo tâm lý chung, người biên soạn SGK thường có xu hướng đưa kiến thức khó hơn và mới hơn so với yêu cầu tối thiểu. Trong khi đó, Chương trình 2018 là chương trình định hướng phát triển năng lực người học, do đó cần bảo đảm nguyên tắc: kiến thức vừa đủ, ở mức tối thiểu và cần thiết, để dành thời gian cho các hoạt động trải nghiệm, học thông qua thực hành. Việc thiếu chuẩn rõ ràng rất dễ dẫn đến hệ lụy quá tải đối với chương trình giáo dục.

Ngoài ra, Thông tư 32 đã được ban hành gần 10 năm, vì vậy một số nội dung lạc hậu hoặc chưa phù hợp với các xu hướng phát triển trên thế giới, như: năng lực số, năng lực trí tuệ nhân tạo (AI), năng lực công dân toàn cầu, năng lực khởi nghiệp và sáng tạo. Đây là những năng lực thiết yếu trong bối cảnh mới và cần sớm được bổ sung, cập nhật trong Chương trình 2018. 

Thời tiết

Văn hóa

Giải trí

Thể thao